Hộ kinh doanh phải chuyển khoản khi chi trả lương từ 5 triệu trở lên đúng không (Dự kiến)?
Căn cứ khoản 1 Điều 6 Dự thảo Nghị định lần 2 về việc kê khai tính thuế và khấu trừ thuế, sử dụng hóa đơn điện tử của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh như sau:
Điều 6. Các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thuế thu nhập cá nhân
1. Các khoản chi được trừ là các khoản chi phí thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với các khoản thanh toán từng lần có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên, cụ thể như sau:
a) Chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, hàng hóa sử dụng vào sản xuất, kinh doanh.
b) Chi phí tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp, bảo hiểm bắt buộc và các khoản chi trả cho người lao động có đóng bảo hiểm bắt buộc theo quy định; chi phí tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp và các khoản chi trả cho người lao động dưới 01 tháng.
c) Chi phí khấu hao tài sản cố định phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh theo chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định.
d) Chi phí dịch vụ mua ngoài như điện, nước, điện thoại, internet, vận chuyển, thuê tài sản, sửa chữa, bảo dưỡng có chứng từ hợp pháp.
đ) Chi phí trả lãi tiền vay vốn sản xuất, kinh doanh của tổ chức tín dụng theo lãi suất thực tế. Chi phí trả lãi tiền vay vốn sản xuất, kinh doanh của đối tượng không phải là tổ chức tín dụng không vượt quá mức quy định tại Bộ luật Dân sự.
e) Các khoản chi khác phục vụ trực tiếp hoạt động sản xuất, kinh doanh, có hóađơn, chứng từ hợp pháp. Chứng từ thanh toán khôngdùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia tăng.
Theo Dự thảo trên, đề xuất chi phí tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp, bảo hiểm bắt buộc và các khoản chi trả cho người lao động có đóng bảo hiểm bắt buộc theo quy định; chi phí tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp và các khoản chi trả cho người lao động dưới 01 tháng là khoản chi được trừ khi xác định thuế thu nhập cá nhân khi:
– Là các khoản chi phí thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh
– Có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với các khoản thanh toán từng lần có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên.
Như vậy, dự kiến hộ kinh doanh khi chi trả lương từ 5 triệu trở lên phải đáp ứng các điều kiện sau mới được xác định là khoản được trừ khi xác định thuế thu nhập cá nhân:
– Là các khoản chi phí thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh
– Có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với các khoản thanh toán từng lần có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên.
Trên đây là thông tin về “Hộ kinh doanh phải chuyển khoản khi chi trả lương từ 5 triệu trở lên đúng không (Dự kiến)?”.
Hộ kinh doanh phải chuyển khoản khi chi trả lương từ 5 triệu trở lên đúng không (Dự kiến)? (Hình từ Internet)
Mức đóng thuế TNCN của hộ kinh doanh từ ngày 01/01/2026 theo dự thảo mới nhất như thế nào?
Theo Điều 4 Dự thảo Nghị định lần 2 quy định việc khai, tính thuế, khấu trừ thuế, nộp thuế, sử dụng hóa đơn điện tử của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh đề xuất tỷ lệ đóng thuế TNCN của hộ kinh doanh như sau:
(1). Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có hoạt động sản xuất, kinh doanh có mức doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở xuống không phải nộp thuế thu nhập cá nhân.
(2). Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ kinh doanh của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên mức quy định tại (1) được xác định bằng thu nhập tính thuế nhân (x) với thuế suất. Trong đó:
– Thu nhập tính thuế được xác định bằng doanh thu của hàng hóa, dịch vụ bán ra trừ (-) đi chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh trong kỳ tính thuế; (*)
– Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên mức quy định tại khoản 1 Điều này đến 03 tỷ đồng: thuế suất 15%; (**)
– Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 03 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng: thuế suất 17%;
– Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 50 tỷ đồng: thuế suất 20%.
Thu nhập từ cho thuê bất động sản quy định tại (4) không áp dụng cách tính thuế quy định tại khoản này.
(3). Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên mức quy định tại (1) đến 03 tỷ đồng được lựa chọn nộp thuế theo quy định tại (*) và (**) hoặc nộp thuế theo thuế suất nhân (x) với doanh thu tính thuế. Doanh thu tính thuế và thuế suất được xác định như sau:
– Doanh thu tính thuế được xác định bằng phần doanh thu vượt trên mức quy định (1).
Trường hợp hộ, cá nhân có nhiều địa điểm kinh doanh, nhiều ngành nghề kinh doanh thì hộ, cá nhân được trừ 500 triệu đồng vào doanh thu năm trước khi tính thuế thu nhập cá nhân của địa điểm kinh doanh, ngành nghề kinh doanh do hộ, cá nhân tự lựa chọn nhưng tổng mức được trừ không quá 500 triệu đồng đối với tất cả hoạt động kinh doanh của hộ, cá nhân.
– Phân phối, cung cấp hàng hoá: thuế suất 0,5%;
– Dịch vụ, xây dựng khôngbao thầu nguyên vật liệu: thuế suất 2%. Riêng hoạt động cho thuê tài sản, đại lý bảo hiểm, đại lý xổ số, đại lý bán hàng đa cấp: thuế suất 5%;
– Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hoá, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu: thuế suất 1,5%;
– Hoạt động cung cấp sản phẩm và dịch vụ nội dung thông tin số về giải trí, trò chơi điện tử, phim số, ảnh số, nhạc số, quảng cáo số: thuế suất 5%;
– Hoạt động kinh doanh khác: thuế suất 1%.
(4). Hộ, cá nhân cho thuê bất động sản, trừ hoạt động kinh doanh lưu trú, nộp thuế thu nhập cá nhân được xác định bằng phần doanh thu vượt trên mức quy định tại (1) nhân (x) với thuế suất 5%.
(5). Phương pháp tính thuế quy định tại (2), (3) được áp dụng ổn định trong thời gian 02 (hai) năm liên tiếp kể từ năm đầu tiên áp dụng. Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 500 triệu đến 03 tỷ đồng đang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu theo quy định tại (3) nếu trong hai năm liên tục tự xác định hoặc cơ quan thuế có dữ liệu xác định hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu thực tế trên 3 tỷ đồng thì từ năm tiếp theo phải thực hiện chuyển sang phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân trên thu nhập tính thuế theo quy định tại (2).
Hộ kinh doanh có doanh thu dưới 500 triệu/năm không phải nộp thuế thu nhập cá nhân phải không?
Sáng ngày 10/12/2025, Quốc hội đã thông qua Luật Thuế thu nhập cá nhân (sửa đổi) với 4 Chương, 30 Điều.
Theo Điều 4 Thông tư 40/2021/TT-BTC quy định hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh trong năm dương lịch từ 100 triệu đồng trở xuống thì thuộc trường hợp không phải nộp thuế GTGT và không phải nộp thuế TNCN theo quy định pháp luật về thuế GTGT và thuế TNCN. Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có trách nhiệm khai thuế chính xác, trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ thuế đúng hạn; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ thuế theo quy định.
Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh theo hình thức nhóm cá nhân, hộ gia đình thì mức doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định cá nhân không phải nộp thuế GTGT, không phải nộp thuế TNCN được xác định cho một (01) người đại diện duy nhất của nhóm cá nhân, hộ gia đình trong năm tính thuế.
Tuy nhiên, Luật Thuế thu nhập cá nhân sửa đổi bổ sung phương pháp tính thuế trên thu nhập đối với hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu trên 500 triệu đồng/năm đến 3 tỷ đồng. Áp dụng thuế suất 15% tương tự như thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có doanh thu dưới 3 tỷ đồng/năm. Đồng thời, quy định các cá nhân này được lựa chọn phương pháp tính thuế theo tỉ lệ trên doanh thu hoặc theo thu nhập.
Điều chỉnh mức doanh thu không phải nộp thuế của hộ, cá nhân kinh doanh từ 200 triệu đồng/năm lên 500 triệu đồng/năm và cho trừ mức này trước khi tính thuế theo tỉ lệ trên doanh thu. Đồng thời điều chỉnh mức doanh thu không chịu thuế giá trị gia tăng tương ứng lên 500 triệu.
Như vậy, hộ kinh doanh có doanh thu dưới 500 triệu/năm không phải nộp thuế thu nhập cá nhân.